Chuyển nhầm tiền, người nhận không trả thì sao?
Chuyển nhầm vài triệu đồng, vài chục triệu đồng, thậm chí hàng trăm triệu đồng vào tài khoản của người khác rồi phát hiện ra mình chuyển nhầm. Người nhận biết là tiền chuyển nhầm nhưng không chịu trả thì người chuyển phải làm gì?
Đây
không chỉ là câu chuyện “tiền của ai người đó giữ”, mà có thể phát sinh nghĩa vụ hoàn trả theo pháp luật dân sự,
thậm chí trong một số trường hợp còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự.
1.
Tiền chuyển nhầm có trở thành tiền của người nhận không?
Việc
tiền được chuyển vào tài khoản của một người không đồng nghĩa với việc người đó
đương nhiên trở thành chủ sở hữu số tiền.
Theo
Điều 579 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp
luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu…”. “Người được lợi về tài sản mà không có
căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại cũng phải hoàn trả khoản lợi
đó cho người bị thiệt hại…”.
Vì
vậy, nếu A chuyển nhầm 100 triệu đồng vào tài khoản của B và không có bất kỳ
giao dịch hay căn cứ nào chứng minh B có quyền nhận số tiền đó thì về nguyên tắc,
B có nghĩa vụ hoàn trả.
2.
Người nhận biết tiền chuyển nhầm nhưng cố tình không trả thì sao?
Nếu
người nhận biết rõ số tiền không thuộc
về mình, đã được người chuyển hoặc ngân hàng thông báo, yêu cầu hoàn trả
nhưng vẫn cố tình giữ lại hoặc sử dụng số tiền đó thì có thể phát sinh trách
nhiệm pháp lý.
*
Chịu trách nhiệm dân sự:
- Hoàn trả số tiền đã nhận: Theo Điều 580 Bộ luật Dân
sự 2015, người chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản mà không có
căn cứ pháp luật phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận.
- Hoàn trả hoa lợi, lợi tức: Theo
Điều 581 Bộ luật Dân sự 2015, nếu người nhận không ngay tình thì phải hoàn trả
hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi
về tài sản không có căn cứ pháp luật.
Xử
phạt hành chính:
Nếu
hành vi chiếm giữ trái phép tài sản chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự,
người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 3.000.000 đồng đến
5.000.000 đồng theo điểm đ khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP và buộc trả
lại tài sản cho chủ sở hữu.
Chịu
trách nhiệm hình sự (đối
với số tiền từ 10 triệu đồng trở lên):
Theo
Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2025), hành vi cố tình không trả lại tài sản bị giao nhầm
sau khi đã được yêu cầu hoàn trả sẽ bị truy cứu về Tội chiếm giữ trái phép tài sản với các khung hình phạt cụ thể:
+ Tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng:
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến
02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02
năm.
+ Tài sản từ
200 triệu đồng trở lên: Bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
3.
Chuyển nhầm tiền thì người chuyển cần làm gì?
Nếu
phát hiện chuyển nhầm, không nên chỉ nhắn
tin hoặc gọi điện yêu cầu miệng.
Người
chuyển nên thực hiện các bước sau:
-
Bước 1: liên hệ ngay với ngân hàng của mình để thông báo giao dịch chuyển
nhầm và yêu cầu hỗ trợ tra soát.
- Bước
2: lưu
giữ đầy đủ chứng cứ:
+ Sao
kê giao dịch;
+ Ủy
nhiệm chi hoặc thông tin giao dịch;
+ Số
tài khoản đã chuyển;
+ Thời
gian, số tiền chuyển;
+ Nội
dung chuyển khoản;
+ Tin
nhắn, cuộc gọi, email trao đổi với người nhận;
+ Văn
bản yêu cầu hoàn trả tiền.
- Bước
3: nếu
xác định được người nhận nhưng họ không tự nguyện trả, có thể gửi văn bản yêu cầu hoàn trả tài sản để
xác lập rõ việc người nhận đã được thông báo về nguồn gốc số tiền.
- Bước 4: nếu
người nhận vẫn cố tình không trả, tùy tính chất vụ việc, người chuyển có thể
cân nhắc khởi kiện yêu cầu hoàn trả tài
sản hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét nếu có dấu hiệu của tội
chiếm giữ trái phép tài sản.
4.
Tình huống:
Anh
A định chuyển 20 triệu đồng cho
người quen nhưng nhập nhầm số tài khoản và chuyển vào tài khoản của chị B. Sau đó anh A phát hiện sai sót và liên hệ
ngân hàng. Ngân hàng thông báo cho chị B biết khoản tiền được chuyển nhầm và đề
nghị hoàn trả.
Chị
B biết rõ đây không phải tiền của mình nhưng vẫn nói: “Tiền đã vào tài khoản của tôi thì tôi
không trả.”
Trong
trường hợp này, chị B không thể chỉ dựa vào việc “tiền đã vào tài khoản của tôi” để cho rằng mình có quyền sở hữu số
tiền.
Nếu
không có căn cứ pháp luật để được nhận số tiền, nghĩa vụ hoàn trả có thể phát
sinh theo Điều 579 Bộ luật Dân sự 2015. Nếu đồng thời đáp ứng các điều kiện tại
Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) hành vi cố tình không
trả lại tài sản sau khi được yêu cầu còn có thể bị xem xét về trách nhiệm hình
sự.
Chuyển nhầm tiền không có nghĩa là “mất tiền”. Người chuyển nhầm có quyền yêu cầu người
nhận hoàn trả nếu xác định được khoản tiền đó được chuyển không có căn cứ pháp luật. Ngược lại, người nhận cũng không nên nghĩ
rằng: “Tiền đã vào tài
khoản của tôi thì trở thành tiền của tôi.” Nếu
biết rõ đó là tiền chuyển nhầm mà vẫn cố tình không trả sau khi được yêu cầu,
người nhận có thể phải chịu trách nhiệm
dân sự, và trong trường hợp đủ dấu hiệu luật định còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái
phép tài sản.
Bạn đang gặp tình huống tương tự?
Hãy liên hệ Luật sư Lê Thị Ngọc Lợi (Hotline: 0902 081 061) để được xem xét trực tiếp trên cơ sở hồ sơ thực tế.
Bạn cần tư vấn pháp lý trực tiếp?
Liên hệ ngay với Luật sư – Thạc sĩ Lê Thị Ngọc Lợi để nhận giải pháp pháp lý an toàn và tối ưu nhất.
Bài viết Liên quan
Con riêng của vợ có được nhận di sản thừa kế của cha dượng khi mất không?
Trong thực tế, nhiều gia đình có quan hệ cha dượng – con riêng gắn bó với nhau trong thời gian dài. Cha dượng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, lo cho con riêng của vợ từ khi còn nhỏ. Tuy nhiên, khi cha dượng qua đời, vấn đề đặt ra là: Người con riêng của vợ có được quyền nhận di sản thừa kế của cha dượng hay không?
Hướng dẫn tích hợp dữ liệu lên VNeID năm 2026 chi tiết như thế nào?
Tích hợp Giấy dữ liệu lên VNeID năm 2026 chi tiết như sau mời các Bạn thực hiện xem được không nhé.
Dùng AI ghép mặt người khác vào một video: Khi nào thì phát sinh trách nhiệm pháp lý?
Chỉ vài thao tác, một khuôn mặt có thể được AI “đặt” vào một video mà người thật chưa từng xuất hiện. Nhưng nếu video đó khiến người xem tin rằng nhân vật thực sự đã thực hiện hành vi trong video, người tạo ra hoặc phát tán nội dung có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý.