CHỒNG KHÔNG ĐỒNG Ý LY HÔN, VỢ CÓ LY HÔN ĐƯỢC KHÔNG?
“Chồng tôi không chịu ký đơn ly hôn thì tôi có ly hôn được không?” Đây là câu hỏi rất nhiều phụ nữ đặt ra khi cuộc sống hôn nhân đã phát sinh mâu thuẫn nhưng người chồng không đồng ý chấm dứt quan hệ vợ chồng.
Câu trả lời là: CÓ.
Người vợ vẫn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn dù người chồng không đồng
ý.
Tuy nhiên, có quyền yêu cầu
ly hôn không có nghĩa là Tòa án đương nhiên chấp nhận cho ly hôn. Người yêu cầu
phải đáp ứng các điều kiện và chứng minh được căn cứ theo quy định pháp luật.
1. CHỒNG KHÔNG KÝ ĐƠN, VỢ
VẪN CÓ QUYỀN YÊU CẦU LY HÔN
Căn cứ pháp luật: Điều 51
Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Khoản 1 Điều 51 quy định:
“Vợ, chồng hoặc cả hai
người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.”
Quy định này có ý nghĩa rất
rõ:
Không bắt buộc cả hai vợ
chồng phải cùng đồng ý thì mới có thể yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Nếu người chồng không đồng
ý, người vợ vẫn có thể tự mình nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Đây được gọi là ly hôn
theo yêu cầu của một bên, thường được gọi trong thực tế là ly hôn đơn phương.
2. VẬY CHỒNG KHÔNG ĐỒNG Ý
THÌ TÒA CÓ CHO LY HÔN KHÔNG?
Có thể.
Nhưng Tòa án không chỉ
căn cứ vào việc người vợ nói:
“Tôi không muốn sống với
chồng nữa.”
Mà phải xem xét tình trạng
thực tế của quan hệ hôn nhân.
Căn cứ: khoản 1 Điều 56
Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Điều 56 quy định, khi vợ
hoặc chồng yêu cầu ly hôn và hòa giải tại Tòa án không thành, Tòa án giải quyết
cho ly hôn nếu có căn cứ cho thấy:
-
Vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình; hoặc
-
Có hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng;
và những hành vi đó làm
cho:
-
Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng;
-
Đời sống chung không thể kéo dài;
-
Mục đích của hôn nhân không đạt được.
Như vậy, điểm mấu chốt
không phải là:
“Chồng
có ký đơn hay không?”
mà là:
“Quan hệ hôn nhân có thực
sự rơi vào tình trạng mà pháp luật xác định là có căn cứ để ly hôn hay không?”
3. THẾ NÀO LÀ HÔN NHÂN
“LÂM VÀO TÌNH TRẠNG TRẦM TRỌNG”?
Đây là vấn đề rất quan trọng
khi giải quyết ly hôn đơn phương.
Căn cứ: Điều 4 Nghị quyết
01/2024/NQ-HĐTP
Nghị quyết
01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Theo đó, “vi phạm
nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng” là việc vi phạm quy định về quyền,
nghĩa vụ của vợ chồng, dẫn đến xâm phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp
của người kia. Ví dụ: Vợ, chồng phá tán tài sản gia đình.
Nghị quyết cũng hướng dẫn
“Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ,
chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly
thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng;
b) Vợ, chồng có quan hệ ngoại tình;
c) Vợ, chồng xúc phạm nhau, làm tổn hại đến
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tổn thất về tinh thần hoặc gây thương tích, tổn hại
đến sức khỏe của nhau;
d) Không bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng; không tôn trọng
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện
cho nhau phát triển.
Điều này rất quan trọng vì
không phải cứ vợ muốn ly hôn là phải chứng minh chồng có hành vi ngoại tình hoặc
đánh đập.
Tình trạng hôn nhân phải
được đánh giá dựa trên toàn bộ diễn biến thực tế của đời sống vợ chồng.
4. CHỒNG KHÔNG ĐÁNH ĐẬP,
KHÔNG NGOẠI TÌNH NHƯNG VỢ VẪN MUỐN LY HÔN?
Đây là trường hợp nhiều
người hiểu sai.
Ví dụ:
- Vợ chồng sống chung nhiều
năm nhưng thường xuyên mâu thuẫn.
- Hai người đã sống ly
thân trong thời gian dài.
- Không còn quan tâm,
chăm sóc hoặc hỗ trợ nhau.
- Mỗi người có cuộc sống
riêng.
- Gia đình hai bên đã nhiều
lần hòa giải nhưng không có kết quả.
- Người chồng không đồng
ý ly hôn và cho rằng:
“Tôi không đánh vợ, không
ngoại tình, vẫn đưa tiền cho gia đình nên tôi không đồng ý ly hôn.”
Trong trường hợp này, việc
người chồng không đồng ý không phải là yếu tố duy nhất quyết định vụ án.
Tòa án phải xem xét toàn
bộ tình trạng hôn nhân, bao gồm mức độ mâu thuẫn, tình trạng sống chung,
quan hệ tình cảm, trách nhiệm giữa vợ chồng và khả năng tiếp tục duy trì đời sống
chung.
Nếu có đủ căn cứ theo Điều
56, Tòa án vẫn có thể giải quyết cho ly hôn.
5. “TÔI KHÔNG MUỐN LY
HÔN” CÓ PHẢI LÀ CÁCH ĐỂ NGĂN LY HÔN?
Không phải lúc nào cũng
được.
Một người có quyền bày tỏ
ý kiến rằng họ không đồng ý ly hôn.
Tòa án cũng phải ghi nhận
ý kiến và tiến hành hòa giải theo quy định.
Nhưng nếu sau quá trình tố
tụng, Tòa án xác định quan hệ hôn nhân đã đáp ứng căn cứ quy định tại Điều 56
thì ý chí không đồng ý của một bên không đương nhiên làm mất quyền yêu cầu ly
hôn của bên kia.
Nói đơn giản:
Hôn nhân là quan hệ giữa
hai người, nhưng pháp luật không buộc một người phải duy trì quan hệ hôn nhân bằng
mọi giá khi đã có đủ căn cứ pháp luật để chấm dứt.
6. NẾU CHỒNG CỐ TÌNH
KHÔNG ĐẾN TÒA THÌ SAO?
Nhiều người lo rằng:
“Chồng tôi nói không đồng
ý và tuyên bố sẽ không bao giờ đến Tòa. Như vậy tôi có ly hôn được không?”
Việc một bên không hợp
tác hoặc vắng mặt không đồng nghĩa với việc vụ án chắc chắn không thể giải quyết.
Tòa án sẽ xử lý việc vắng
mặt của đương sự theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tùy thuộc vào
việc triệu tập và các điều kiện tố tụng cụ thể.
Vì vậy, không nên nghĩ rằng
chỉ cần không đến Tòa là có thể ngăn vụ án ly hôn vô thời hạn.
7. CÓ TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT:
CHỒNG KHÔNG ĐƯỢC YÊU CẦU LY HÔN
Ở chiều ngược lại, pháp
luật có quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng.
Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn
nhân và gia đình 2014
Người chồng không có quyền
yêu cầu ly hôn khi người vợ:
-
Đang có thai;
-
Đang sinh con;
-
Hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Quy định này chỉ hạn chế quyền
yêu cầu ly hôn của người chồng.
Do đó, cần phân biệt:
Chồng yêu cầu ly hôn → bị
hạn chế trong trường hợp luật quy định.
Vợ yêu cầu ly hôn → không
bị cấm chỉ vì mình đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
8. MUỐN LY HÔN ĐƠN
PHƯƠNG, VỢ NÊN CHUẨN BỊ GÌ?
Nếu chồng không đồng ý ly
hôn, người vợ nên chuẩn bị hồ sơ và chứng cứ ngay từ đầu.
Hồ sơ cơ bản
-
Đơn khởi kiện/yêu cầu giải quyết ly hôn;
-
Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính/bản sao);
-
Giấy tờ tùy thân (bản sao);
-
Giấy khai sinh của con (bản sao) (nếu có);
-
Tài liệu về nơi cư trú của các bên;
-
Tài liệu liên quan đến tài sản, nợ chung nếu yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ về tình trạng
hôn nhân
Tùy vụ việc có thể gồm:
-
Tin nhắn;
-
Hình ảnh;
-
Ghi âm, ghi hình hợp pháp;
-
Tài liệu của cơ quan Công an;
-
Hồ sơ khám chữa bệnh;
-
Tài liệu chứng minh việc sống ly thân;
-
Chứng cứ về việc bỏ mặc gia đình;
-
Chứng cứ về việc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng;
-
Người làm chứng;
-
Các tài liệu khác.
Không phải vụ ly hôn nào
cũng cần tất cả các loại chứng cứ trên.
Điều quan trọng là xác định
vấn đề cần chứng minh trong chính vụ án của mình.
VẬY
CÂU TRẢ LỜI CUỐI CÙNG LÀ GÌ?
CHỒNG KHÔNG ĐỒNG Ý LY
HÔN, VỢ VẪN CÓ THỂ LY HÔN.
Căn cứ Điều 51 Luật
Hôn nhân và gia đình 2014, người vợ có quyền tự mình yêu cầu Tòa án giải
quyết ly hôn.
Nếu người chồng không đồng
ý, vụ việc có thể được giải quyết theo Điều 56 về ly hôn theo yêu cầu của một
bên.
Tuy nhiên, để Tòa án chấp
nhận cho ly hôn, cần có căn cứ cho thấy quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được,
theo điều kiện luật định.
Nói cách khác:
Chữ ký của người chồng
không phải là điều kiện để người vợ có quyền yêu cầu ly hôn. Nhưng chứng cứ về
tình trạng hôn nhân có thể là yếu tố quyết định việc Tòa án có chấp nhận yêu cầu
ly hôn hay không.
CĂN CỨ PHÁP LÝ
-
Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13: Điều 51 về quyền
yêu cầu giải quyết ly hôn; Điều 54 về hòa giải tại Tòa án; Điều 56 về ly hôn
theo yêu cầu của một bên.
-
Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC,
có hiệu lực từ ngày 01/7/2024, hướng dẫn áp dụng một số quy định trong giải quyết
vụ việc hôn nhân và gia đình, trong đó có Điều 4 hướng dẫn khoản 1 Điều 56 Luật
Hôn nhân và gia đình.
LUẬT SƯ – THẠC SĨ LÊ THỊ
NGỌC LỢI
Tư vấn và giải quyết các
vấn đề về hôn nhân và gia đình, ly hôn, quyền nuôi con, cấp dưỡng, chia tài sản
và các tranh chấp phát sinh khi ly hôn.
Địa chỉ văn phòng: Số 149 đường Lê Thị Riêng, phường Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Điện thoại/zalo: 0902082061
VỮNG PHÁP LÝ – TRỌN NIỀM TIN
Bạn cần tư vấn pháp lý trực tiếp?
Liên hệ ngay với Luật sư – Thạc sĩ Lê Thị Ngọc Lợi để nhận giải pháp pháp lý an toàn và tối ưu nhất.
Bài viết Liên quan
Quy trình và Thủ tục khởi kiện vụ án Ly hôn: Hướng dẫn pháp lý từ Luật sư
Khi đời sống hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được và một bên không đồng ý ký đơn, việc thực hiện thủ tục khởi kiện ly hôn (ly hôn đơn phương) là giải pháp pháp lý cuối cùng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân cũng như con cái.
QUYỀN NUÔI CON KHI LY HÔN: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP THỰC TẾ ĐỂ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO CON
Ly hôn không làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con. Khi giải quyết tranh chấp quyền nuôi con, điều quan trọng nhất không phải là “cha hay mẹ có điều kiện kinh tế tốt hơn”, mà là phương án nào bảo đảm tốt nhất quyền lợi về mọi mặt của con.
Quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng sau khi ly hôn theo Luật Hôn nhân & Gia đình
Phân tích căn cứ xác định người trực tiếp nuôi con dưới 36 tháng tuổi, con trên 7 tuổi và mức cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.